Kurimu shichu (Món hầm có sữa kiểu Nhật)

Thành phần (cho 4 người)

200 g thịt gà
1 củ hành tây (200 g)
1 củ cà rốt (150 g)
2 củ khoai tây (300 g)
100 g súp lơ xanh
40 g bơ
3 muỗng canh bột mì
1 viên nước dùng (5 g)
1 lá nguyệt quế
1 cốc (200 ml) sữa
Muối và hạt tiêu
Kurimu shichu (Món hầm có sữa kiểu Nhật) Kurimu shichu (Món hầm có sữa kiểu Nhật) Kurimu shichu (Món hầm có sữa kiểu Nhật)

Cách chế biến

Gọt vỏ củ hành và cắt dọc. Bỏ phần cứng ở giữa và cắt theo chiều dọc và ngang để được những miếng hình vuông kích thước 2 cm. Gọt vỏ cà rốt và thái lát dày 5 mm. Gọt vỏ khoai tây. Bổ đôi theo chiều dọc, và cắt thành những lát hình bán nguyệt dày 1,5 cm. Ngâm những lát này trong nước. Với súp lơ xanh, xắt thành hai phần: hoa lơ và phần cuống. Phần hoa lơ thì tách thành những miếng dài 3 cm tính từ cuống lên và thái đôi theo chiều dọc. Phần cuống còn lại thì lột vỏ và xắt thành những miếng tròn dày 5 mm. Thái thịt gà thành những miếng hình vuông 3cm và ướp với một chút muối và hạt tiêu, dùng ngón tay để chà xát gia vị lên miếng thịt.
Cho bơ vào một chiếc nồi và đặt lên bếp lửa. Khi bơ tan được một nửa, cho thịt gà vào. Xào trên lửa vừa cho đến khi thịt chuyển sang màu trắng đục. Sau đó, cho hành tây và cà rốt vào tiếp tục xào.
Khi hành tây chuyển thành một nửa trong suốt, tắt lửa và thêm 3 thìa bột mì, khuấy đều. Khi thịt và rau đã được phủ một lớp bột, giảm bớt lửa, xào các thành phần trong khoảng 1 phút, dùng thìa gỗ di dưới đáy chảo để phần phía dưới không bị cháy.
Tắt bếp và thêm 3 ly (600 ml) nước, 1 viên nước dùng và 1 lá nguyệt quế. Đun sôi trên lửa vừa. Sau đó giảm nhiệt xuống thấp. Đậy nắp hơi hé trên chảo và đun nhỏ lửa trong 10 phút, thỉnh thoảng khuấy đều để các thành phần không bị bén chảo và cháy.
Sau 10 phút, thêm khoai tây và bông cải xanh. Đun nhỏ lửa trong 12-13 phút. Khi xuyên dĩa qua khoai tây thấy mềm, thêm vào một cốc (200ml) sữa và hâm nóng. Nếm và thêm muối và hạt tiêu nếu cần thiết.

Kurimu shichu và Nhật Bản thời hậu chiến
Sự phổ biến trên toàn quốc món Kurimu shichu được cho là do bữa trưa được cung cấp cho trường học sau Chiến tranh Thế giới thứ II – khi Nhật Bản đang trong tình trạng thiếu lương thực. Vào tháng 1/1947, khi nhiều trẻ em bị suy dinh dưỡng, trẻ em tại một trường tiểu học ở Tokyo đã được cung cấp cá hồi và mì ống ninh trong sữa bột tách kem. Sữa tách kem là một trong những nguồn cung cấp cứu trợ của Mỹ. Sau đó, sữa tách kem được sử dụng thường xuyên trong các bữa ăn trưa ở trường học.

Trong những năm 1960, khi Nhật Bản trải qua thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, một chương trình nấu ăn trên đài truyền hình NHK đã giới thiệu công thức nấu món hầm với sữa.

Năm 1966, một công ty thực phẩm bắt đầu tiếp thị loại nước sốt ăn liền cho các món hầm có sữa, lấy cảm hứng từ các món hầm có sữa phục vụ trong các bữa ăn trưa trường học và các món hầm Ireland truyền thống của Ireland. Sản phẩm này giúp làm món hầm có sữa dễ dàng và món ăn lan đến các gia đình. Nó được các bà mẹ bận rộn yêu thích, vì có thể chuẩn bị trước và hương vị vẫn thơm ngon sau khi được hâm nóng hàng giờ sau đó.

Kurimu shichu xuất hiện trong các gia đình Nhật Bản nhờ sự hỗ trợ quốc tế cho Nhật Bản sau chiến tranh và sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật Bản sau đó.

Chi tiết

Kurimu shichu (Món hầm có sữa kiểu Nhật)

Thành phần (cho 4 người)

200 g thịt gà
1 củ hành tây (200 g)
1 củ cà rốt (150 g)
2 củ khoai tây (300 g)
100 g súp lơ xanh
40 g bơ
3 muỗng canh bột mì
1 viên nước dùng (5 g)
1 lá nguyệt quế
1 cốc (200 ml) sữa
Muối và hạt tiêu
Kurimu shichu (Món hầm có sữa kiểu Nhật) Kurimu shichu (Món hầm có sữa kiểu Nhật) Kurimu shichu (Món hầm có sữa kiểu Nhật)

Cách chế biến

Gọt vỏ củ hành và cắt dọc. Bỏ phần cứng ở giữa và cắt theo chiều dọc và ngang để được những miếng hình vuông kích thước 2 cm. Gọt vỏ cà rốt và thái lát dày 5 mm. Gọt vỏ khoai tây. Bổ đôi theo chiều dọc, và cắt thành những lát hình bán nguyệt dày 1,5 cm. Ngâm những lát này trong nước. Với súp lơ xanh, xắt thành hai phần: hoa lơ và phần cuống. Phần hoa lơ thì tách thành những miếng dài 3 cm tính từ cuống lên và thái đôi theo chiều dọc. Phần cuống còn lại thì lột vỏ và xắt thành những miếng tròn dày 5 mm. Thái thịt gà thành những miếng hình vuông 3cm và ướp với một chút muối và hạt tiêu, dùng ngón tay để chà xát gia vị lên miếng thịt.
Cho bơ vào một chiếc nồi và đặt lên bếp lửa. Khi bơ tan được một nửa, cho thịt gà vào. Xào trên lửa vừa cho đến khi thịt chuyển sang màu trắng đục. Sau đó, cho hành tây và cà rốt vào tiếp tục xào.
Khi hành tây chuyển thành một nửa trong suốt, tắt lửa và thêm 3 thìa bột mì, khuấy đều. Khi thịt và rau đã được phủ một lớp bột, giảm bớt lửa, xào các thành phần trong khoảng 1 phút, dùng thìa gỗ di dưới đáy chảo để phần phía dưới không bị cháy.
Tắt bếp và thêm 3 ly (600 ml) nước, 1 viên nước dùng và 1 lá nguyệt quế. Đun sôi trên lửa vừa. Sau đó giảm nhiệt xuống thấp. Đậy nắp hơi hé trên chảo và đun nhỏ lửa trong 10 phút, thỉnh thoảng khuấy đều để các thành phần không bị bén chảo và cháy.
Sau 10 phút, thêm khoai tây và bông cải xanh. Đun nhỏ lửa trong 12-13 phút. Khi xuyên dĩa qua khoai tây thấy mềm, thêm vào một cốc (200ml) sữa và hâm nóng. Nếm và thêm muối và hạt tiêu nếu cần thiết.

Kurimu shichu và Nhật Bản thời hậu chiến
Sự phổ biến trên toàn quốc món Kurimu shichu được cho là do bữa trưa được cung cấp cho trường học sau Chiến tranh Thế giới thứ II – khi Nhật Bản đang trong tình trạng thiếu lương thực. Vào tháng 1/1947, khi nhiều trẻ em bị suy dinh dưỡng, trẻ em tại một trường tiểu học ở Tokyo đã được cung cấp cá hồi và mì ống ninh trong sữa bột tách kem. Sữa tách kem là một trong những nguồn cung cấp cứu trợ của Mỹ. Sau đó, sữa tách kem được sử dụng thường xuyên trong các bữa ăn trưa ở trường học.

Trong những năm 1960, khi Nhật Bản trải qua thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, một chương trình nấu ăn trên đài truyền hình NHK đã giới thiệu công thức nấu món hầm với sữa.

Năm 1966, một công ty thực phẩm bắt đầu tiếp thị loại nước sốt ăn liền cho các món hầm có sữa, lấy cảm hứng từ các món hầm có sữa phục vụ trong các bữa ăn trưa trường học và các món hầm Ireland truyền thống của Ireland. Sản phẩm này giúp làm món hầm có sữa dễ dàng và món ăn lan đến các gia đình. Nó được các bà mẹ bận rộn yêu thích, vì có thể chuẩn bị trước và hương vị vẫn thơm ngon sau khi được hâm nóng hàng giờ sau đó.

Kurimu shichu xuất hiện trong các gia đình Nhật Bản nhờ sự hỗ trợ quốc tế cho Nhật Bản sau chiến tranh và sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật Bản sau đó.

Chi tiết

Buri-daikon (Cá cam Nhật kho củ cải)

Thành phần (cho 4 người)

200 g cá buri, tức cá cam Nhật (phần đầu và xương, hoặc các miếng phi lê)
300 g củ cải
15 g gừng
1 thìa canh đường
2 thìa canh xì dầu

Cách chế biến
Nạo vỏ củ cải. Xắt thành các miếng tròn, dày 2 cm rồi xắt đôi thành hình bán nguyệt. Để nguyên vỏ gừng rồi xắt chỉ.
Đổ nước vào nồi sao cho đủ để ngập các miếng củ cải. Đun cho đến khi sôi rồi cho củ cải vào. Đun sôi liu riu bằng lửa nhỏ trong khoảng 15 phút cho đến khi mềm. Dùng dĩa hoặc xiên chọc thử để kiểm tra. Khi đã được, gặp củ cải ra, để trên rây cho ráo nước.
Xắt cá thành những miếng hình vuông có các cạnh khoảng 4 đến 5 cm. Để sẵn một bát nước lạnh lớn. Đun sôi lại nước vừa luộc củ cải bằng lửa lớn. Trần sơ 2 đến 3 miếng cá trong khoảng 10 giây cho đến khi cá chuyển màu trắng sữa. Cho các miếng cá vào bát nước lạnh. Dùng ngón tay chà lên miếng cá để bỏ vây cá và những miếng máu đông còn sót lại. Cho ra rây để ráo. Làm tương tự như vậy với các miếng cá còn lại.
Đun nóng 300 ml nước trong nồi, cho vào 1 thìa canh đường và 2 thìa canh xì dầu, quấy lên. Khi nước sôi, cho củ cải, gừng và cá vào. Đậy nắp vung nhỏ hoặc một cái đĩa lên các nguyên liệu. Nắp vung phải lọt mặt nồi. Đun bằng lửa vừa trong khoảng 15 phút.
Khi nước đã cạn bớt, bỏ nắp vung ra, dùng môi múc nước còn trong nồi đổ lên các nguyên liệu để ngấm hương vị. Nếm thử nước, nếu thấy đã đủ đặc thì bắc nồi ra. Như vậy, món ăn đã hoàn thành.

Củ cải ở Nhật Bản

Mỗi năm, khoảng 1,5 triệu tấn củ cải được thu hoạch ở Nhật Bản. Tính về khối lượng, đây là loại rau củ được thu hoạch nhiều thứ 2 ở Nhật Bản, sau khoai tây. Món này có thể nghiền ra để ăn sống, nấu chín hoặc muối dưa.

Củ cải được cho là có nguồn gốc từ khu vực Địa Trung Hải. Loại củ này xuất hiện trong một số tài liệu ở Nhật Bản vào thế kỉ thứ 8, vì vậy có nhiều khả năng, vào thời kỳ đó, người Nhật đã biết đến và ăn củ cải.

Củ cải được trồng rộng rãi từ thế kỉ 17 cho đến giữa thế kỉ 19. Người Nhật đã tạo ra rất nhiều giống củ cải. Ngày nay, người ta cho là có hơn 100 giống củ cải khác nhau. Nhiều vùng trồng những giống củ cải của riêng mình. Tỉnh Kagoshima ở miền Nam Nhật Bản có giống củ cải Sakura-jima. Củ to nhất có thể nặng tới 30 kg và có chu vi 120 cm. Ở đây cũng từng có củ cải được ghi nhận là nặng nhất thế giới. Thịt củ cải mềm và được nấu bằng nhiều cách: nấu chín, ăn sống hoặc muối dưa.

Nhật Bản cũng trồng giống củ cải dài nhất. Củ cải Moriguchi được trồng ở 2 tỉnh Aichi và Gifu, ở miền Trung Nhật Bản. Loại củ cải này có đường kính 2 cm, nhưng có thể dài tới 180 cm, không kể phần lá. Nó khá cứng và có vị hăng. Người ta muối cả củ, và món ăn này là một đặc sản của địa phương.

Chi tiết

Buri-daikon (Cá cam Nhật kho củ cải)

Thành phần (cho 4 người)

200 g cá buri, tức cá cam Nhật (phần đầu và xương, hoặc các miếng phi lê)
300 g củ cải
15 g gừng
1 thìa canh đường
2 thìa canh xì dầu

Cách chế biến
Nạo vỏ củ cải. Xắt thành các miếng tròn, dày 2 cm rồi xắt đôi thành hình bán nguyệt. Để nguyên vỏ gừng rồi xắt chỉ.
Đổ nước vào nồi sao cho đủ để ngập các miếng củ cải. Đun cho đến khi sôi rồi cho củ cải vào. Đun sôi liu riu bằng lửa nhỏ trong khoảng 15 phút cho đến khi mềm. Dùng dĩa hoặc xiên chọc thử để kiểm tra. Khi đã được, gặp củ cải ra, để trên rây cho ráo nước.
Xắt cá thành những miếng hình vuông có các cạnh khoảng 4 đến 5 cm. Để sẵn một bát nước lạnh lớn. Đun sôi lại nước vừa luộc củ cải bằng lửa lớn. Trần sơ 2 đến 3 miếng cá trong khoảng 10 giây cho đến khi cá chuyển màu trắng sữa. Cho các miếng cá vào bát nước lạnh. Dùng ngón tay chà lên miếng cá để bỏ vây cá và những miếng máu đông còn sót lại. Cho ra rây để ráo. Làm tương tự như vậy với các miếng cá còn lại.
Đun nóng 300 ml nước trong nồi, cho vào 1 thìa canh đường và 2 thìa canh xì dầu, quấy lên. Khi nước sôi, cho củ cải, gừng và cá vào. Đậy nắp vung nhỏ hoặc một cái đĩa lên các nguyên liệu. Nắp vung phải lọt mặt nồi. Đun bằng lửa vừa trong khoảng 15 phút.
Khi nước đã cạn bớt, bỏ nắp vung ra, dùng môi múc nước còn trong nồi đổ lên các nguyên liệu để ngấm hương vị. Nếm thử nước, nếu thấy đã đủ đặc thì bắc nồi ra. Như vậy, món ăn đã hoàn thành.

Củ cải ở Nhật Bản

Mỗi năm, khoảng 1,5 triệu tấn củ cải được thu hoạch ở Nhật Bản. Tính về khối lượng, đây là loại rau củ được thu hoạch nhiều thứ 2 ở Nhật Bản, sau khoai tây. Món này có thể nghiền ra để ăn sống, nấu chín hoặc muối dưa.

Củ cải được cho là có nguồn gốc từ khu vực Địa Trung Hải. Loại củ này xuất hiện trong một số tài liệu ở Nhật Bản vào thế kỉ thứ 8, vì vậy có nhiều khả năng, vào thời kỳ đó, người Nhật đã biết đến và ăn củ cải.

Củ cải được trồng rộng rãi từ thế kỉ 17 cho đến giữa thế kỉ 19. Người Nhật đã tạo ra rất nhiều giống củ cải. Ngày nay, người ta cho là có hơn 100 giống củ cải khác nhau. Nhiều vùng trồng những giống củ cải của riêng mình. Tỉnh Kagoshima ở miền Nam Nhật Bản có giống củ cải Sakura-jima. Củ to nhất có thể nặng tới 30 kg và có chu vi 120 cm. Ở đây cũng từng có củ cải được ghi nhận là nặng nhất thế giới. Thịt củ cải mềm và được nấu bằng nhiều cách: nấu chín, ăn sống hoặc muối dưa.

Nhật Bản cũng trồng giống củ cải dài nhất. Củ cải Moriguchi được trồng ở 2 tỉnh Aichi và Gifu, ở miền Trung Nhật Bản. Loại củ cải này có đường kính 2 cm, nhưng có thể dài tới 180 cm, không kể phần lá. Nó khá cứng và có vị hăng. Người ta muối cả củ, và món ăn này là một đặc sản của địa phương.

Chi tiết

Sato-imo no Tori-soboro-ni (Khoai sọ ninh với thịt gà băm xào)

Thành phần (cho 4 người)

4 củ khoai sọ (400 g)
100 g thịt gà băm nhỏ
Miếng gừng kích cỡ 2 cm
1 thìa cà phê dầu ăn
1 1/2 thìa canh đường
1 1/2 thìa canh xì dầu
1 thìa cà phê tinh bột khoai tây

Cách chế biến

Rửa sạch khoai sọ. Lấy khăn hoặc giấy nhà bếp lau khô và để ráo. Dùng dao cắt bỏ hai đầu của các củ khoai và tước vỏ theo chiều dọc. Cho khoai vào nồi, đổ nước đủ ngập khoai. Để bếp ở lửa vừa. Khi nước sôi, giảm nhỏ lửa và đun tiếp khoảng 10 phút. Sau đó nhấc ra, rửa khoai trực tiếp dưới vòi nước để bớt nhớt. Cho khoai vào rá, để ráo. Rửa sạch nồi.
Tước vỏ và băm nhỏ gừng. Đun nóng nồi, cho dầu vào rồi tắt bếp. Cho thịt gà băm nhỏ và gừng vào nồi. Dùng thìa gỗ đánh tơi thịt gà ra.
Thêm 300 ml nước và khoai sọ vào nồi. Cho thêm đường và xì dầu vào trộn đều. Đậy nắp vung lọt nồi (otoshi-buta) hoặc đĩa lật ngược lên các nguyên liệu. Ninh bằng lửa nhỏ trong 15 phút. Chú ý, nắp vung hay đĩa phải có đường kính nhỏ hơn nồi. Sau 15 phút, dùng xiên hoặc dĩa chọc vào khoai sọ để xem khoai đã được chưa. Nếu dễ chọc có nghĩa là đã được. Nếm nước trong nồi, nếu mùi vị vừa đủ thì tắt bếp.
Cho một thìa cà phê tinh bột khoai tây vào cốc hoặc bát nhỏ. Cho thêm 1 thìa canh nước. Khuấy đều. Cho ngay hỗn hợp này vào nước dùng đang nóng ở trong nồi. Dùng thìa gỗ khuất đều, chú ý không để khoai sọ bị vỡ. Bật lại bếp và đun đến khi nước đặc lại. Như vậy, món ăn đã xong.

Soboro
Soboro là để chỉ các nguyên liệu như thịt gà băm nhỏ được xào cho đến khi khô, khiến các miếng thịt tơi ra. Trứng và cá cũng thường được nấu kiểu này.

Trứng được đánh lên, nêm ít đường và muối, sau đó xào bằng lửa nhỏ cho đến khi tơi ra thành những miếng nhỏ. Cá thì được rim cho đến khi mềm, bỏ da và xương, sau đó xào với xì dầu, đường và các gia vị khác cho đến khi tơi ra.

Nhiều món làm kiểu soboro, ví dụ như trứng, thịt gà băm, hay là cá được cho lên trên cơm hộp, thành một món gọi là “soboro-bento”. Các nguyên liệu này cũng có thể đem xào chung với cà tím, ớt chuông và các loại rau khác để được các món ăn gọi là “soboro-itame” tức là soboro xào.

Chi tiết

Sato-imo no Tori-soboro-ni (Khoai sọ ninh với thịt gà băm xào)

Thành phần (cho 4 người)

4 củ khoai sọ (400 g)
100 g thịt gà băm nhỏ
Miếng gừng kích cỡ 2 cm
1 thìa cà phê dầu ăn
1 1/2 thìa canh đường
1 1/2 thìa canh xì dầu
1 thìa cà phê tinh bột khoai tây

Cách chế biến

Rửa sạch khoai sọ. Lấy khăn hoặc giấy nhà bếp lau khô và để ráo. Dùng dao cắt bỏ hai đầu của các củ khoai và tước vỏ theo chiều dọc. Cho khoai vào nồi, đổ nước đủ ngập khoai. Để bếp ở lửa vừa. Khi nước sôi, giảm nhỏ lửa và đun tiếp khoảng 10 phút. Sau đó nhấc ra, rửa khoai trực tiếp dưới vòi nước để bớt nhớt. Cho khoai vào rá, để ráo. Rửa sạch nồi.
Tước vỏ và băm nhỏ gừng. Đun nóng nồi, cho dầu vào rồi tắt bếp. Cho thịt gà băm nhỏ và gừng vào nồi. Dùng thìa gỗ đánh tơi thịt gà ra.
Thêm 300 ml nước và khoai sọ vào nồi. Cho thêm đường và xì dầu vào trộn đều. Đậy nắp vung lọt nồi (otoshi-buta) hoặc đĩa lật ngược lên các nguyên liệu. Ninh bằng lửa nhỏ trong 15 phút. Chú ý, nắp vung hay đĩa phải có đường kính nhỏ hơn nồi. Sau 15 phút, dùng xiên hoặc dĩa chọc vào khoai sọ để xem khoai đã được chưa. Nếu dễ chọc có nghĩa là đã được. Nếm nước trong nồi, nếu mùi vị vừa đủ thì tắt bếp.
Cho một thìa cà phê tinh bột khoai tây vào cốc hoặc bát nhỏ. Cho thêm 1 thìa canh nước. Khuấy đều. Cho ngay hỗn hợp này vào nước dùng đang nóng ở trong nồi. Dùng thìa gỗ khuất đều, chú ý không để khoai sọ bị vỡ. Bật lại bếp và đun đến khi nước đặc lại. Như vậy, món ăn đã xong.

Soboro
Soboro là để chỉ các nguyên liệu như thịt gà băm nhỏ được xào cho đến khi khô, khiến các miếng thịt tơi ra. Trứng và cá cũng thường được nấu kiểu này.

Trứng được đánh lên, nêm ít đường và muối, sau đó xào bằng lửa nhỏ cho đến khi tơi ra thành những miếng nhỏ. Cá thì được rim cho đến khi mềm, bỏ da và xương, sau đó xào với xì dầu, đường và các gia vị khác cho đến khi tơi ra.

Nhiều món làm kiểu soboro, ví dụ như trứng, thịt gà băm, hay là cá được cho lên trên cơm hộp, thành một món gọi là “soboro-bento”. Các nguyên liệu này cũng có thể đem xào chung với cà tím, ớt chuông và các loại rau khác để được các món ăn gọi là “soboro-itame” tức là soboro xào.

Chi tiết

Aji furai (Cá nục chiên giòn với bột cà mì)

Thành phần (cho 4 người)

4 con cá nục (dài khoảng 20 cm)
1 quả trứng
Bột mì
Bột cà mì
2 lá bắp cải to
Dầu ăn

Cách chế biến

  1. Bỏ phần vảy cứng ở hai mặt cá, gần đuôi. Cắt bỏ đầu cá và vây cá ở ngực. Chọc thìa hoặc dụng cụ nào đó vào phần vừa cắt bỏ đầu để móc bỏ ruột cá. Rửa thật sạch bên trong và bên ngoài con cá. Lấy giấy hoặc khăn dùng trong nhà bếp vỗ nhẹ lên cá để lau khô.
  2. Đặt cá lên thớt, quay phần vây ở sống lưng cá về phía bạn, còn phần đuôi ở bên tay trái. Nghiêng dao sao cho gần như song song với thớt. Đặt dao trên phần vây ở sống lưng một chút rồi lạng thịt cá dọc theo xương sống. Lạng từng chút một. Khi lạng, kéo lưỡi dao về phía mình để thịt cá tách ra khỏi xương. Chú ý để không cắt vào phần da ở bụng để sau khi lạng ra khỏi xương, 2 mặt cá vẫn dính liền thành một miếng. Lật con cá lại và làm tương tự với mặt còn lại của con cá. Cuối cùng, xắt bỏ xương sống của cá ở điểm dính với đuôi.
  3. Xắt lá bắp cải thành sợi mảnh, rồi ngâm trong nước lạnh trong khoảng 5 phút. Sau đó cho vào rá để ráo. Đập trứng vào bát, cho vào 1 thìa canh nước. Rắc một ít muối và hạt tiêu lên cá, rồi đem tẩm bột. Dùng tay vỗ nhẹ vào miếng cá để phần bột thừa rơi xuống. Sau đó, nhúng miếng cá đã tẩm bột vào bát trứng. Cuối cùng là tẩm bột cà mì.
  4. Đun dầu đến 170 độ C. Rán từng miếng cá một cho đến khi chuyển màu nâu vàng. Thông thường mất khoảng 2 phút. Đầu tiên, miếng cá sẽ chìm xuống đáy chảo, nhưng sẽ từ từ nổi lên trên bề mặt. Dầu quanh miếng cá sẽ sủi tăm nhỏ dần, cuối cùng sẽ chỉ còn rất nhỏ. Đó là dấu hiệu cá đã chín. Gắp ra khỏi chảo. Cho bắp cải xắt sợi vào bên cạnh các miếng cá. Như vậy món ăn đã hoàn thành.

Cá aji trong ẩm thực Nhật Bản
Cá aji, giống với cá nục ở Việt Nam, là một loại cá quen thuộc đối với người Nhật vì nó có quanh năm ở khắp mọi vùng miền của Nhật. Dù chế biến thế nào, món cá này cũng thơm ngon, đến mức một số người nói là tên của nó xuất phát từ chữ tiếng Nhật “aji”, nghĩa là “hương vị”.

Aji-no-tataki, tức là món cá aji kiểu tartare, là một món tiêu biểu. Cá sống xắt miếng nhỏ ăn kèm với hành, gừng xắt nhỏ và các gia giảm khác để giúp bớt mùi tanh của cá. Ngoài ra còn có món cá nục khô. Cá được rạch ra, trải rộng, ướp muối, và phơi khô. Cá aji khô thường được nướng và ăn trong bữa sáng của người Nhật.

Một số vùng có cách chế biến riêng loại cá này. Ở tỉnh Miyazaki, khu vực Kyushu, cá aji được nướng và nghiền ra, sau đó nướng lại với tương miso, ăn kèm với nước dùng lạnh, nấu từ cá ngừ khô bào mỏng hun khói. Món này có tên là hiya-jiru. Ở quần đảo Izu, người ta có món kusaya. Cá aji được rạch ra, ngâm trong một dung dịch lên men, rồi phơi khô, sau đó đem nướng. Tuy nhiên, món này có mùi rất nặng vì vậy khi chế biến thường phải lưu ý để không ảnh hưởng đến người khác.

Chi tiết

Aji furai (Cá nục chiên giòn với bột cà mì)

Thành phần (cho 4 người)

4 con cá nục (dài khoảng 20 cm)
1 quả trứng
Bột mì
Bột cà mì
2 lá bắp cải to
Dầu ăn

Cách chế biến

  1. Bỏ phần vảy cứng ở hai mặt cá, gần đuôi. Cắt bỏ đầu cá và vây cá ở ngực. Chọc thìa hoặc dụng cụ nào đó vào phần vừa cắt bỏ đầu để móc bỏ ruột cá. Rửa thật sạch bên trong và bên ngoài con cá. Lấy giấy hoặc khăn dùng trong nhà bếp vỗ nhẹ lên cá để lau khô.
  2. Đặt cá lên thớt, quay phần vây ở sống lưng cá về phía bạn, còn phần đuôi ở bên tay trái. Nghiêng dao sao cho gần như song song với thớt. Đặt dao trên phần vây ở sống lưng một chút rồi lạng thịt cá dọc theo xương sống. Lạng từng chút một. Khi lạng, kéo lưỡi dao về phía mình để thịt cá tách ra khỏi xương. Chú ý để không cắt vào phần da ở bụng để sau khi lạng ra khỏi xương, 2 mặt cá vẫn dính liền thành một miếng. Lật con cá lại và làm tương tự với mặt còn lại của con cá. Cuối cùng, xắt bỏ xương sống của cá ở điểm dính với đuôi.
  3. Xắt lá bắp cải thành sợi mảnh, rồi ngâm trong nước lạnh trong khoảng 5 phút. Sau đó cho vào rá để ráo. Đập trứng vào bát, cho vào 1 thìa canh nước. Rắc một ít muối và hạt tiêu lên cá, rồi đem tẩm bột. Dùng tay vỗ nhẹ vào miếng cá để phần bột thừa rơi xuống. Sau đó, nhúng miếng cá đã tẩm bột vào bát trứng. Cuối cùng là tẩm bột cà mì.
  4. Đun dầu đến 170 độ C. Rán từng miếng cá một cho đến khi chuyển màu nâu vàng. Thông thường mất khoảng 2 phút. Đầu tiên, miếng cá sẽ chìm xuống đáy chảo, nhưng sẽ từ từ nổi lên trên bề mặt. Dầu quanh miếng cá sẽ sủi tăm nhỏ dần, cuối cùng sẽ chỉ còn rất nhỏ. Đó là dấu hiệu cá đã chín. Gắp ra khỏi chảo. Cho bắp cải xắt sợi vào bên cạnh các miếng cá. Như vậy món ăn đã hoàn thành.

Cá aji trong ẩm thực Nhật Bản
Cá aji, giống với cá nục ở Việt Nam, là một loại cá quen thuộc đối với người Nhật vì nó có quanh năm ở khắp mọi vùng miền của Nhật. Dù chế biến thế nào, món cá này cũng thơm ngon, đến mức một số người nói là tên của nó xuất phát từ chữ tiếng Nhật “aji”, nghĩa là “hương vị”.

Aji-no-tataki, tức là món cá aji kiểu tartare, là một món tiêu biểu. Cá sống xắt miếng nhỏ ăn kèm với hành, gừng xắt nhỏ và các gia giảm khác để giúp bớt mùi tanh của cá. Ngoài ra còn có món cá nục khô. Cá được rạch ra, trải rộng, ướp muối, và phơi khô. Cá aji khô thường được nướng và ăn trong bữa sáng của người Nhật.

Một số vùng có cách chế biến riêng loại cá này. Ở tỉnh Miyazaki, khu vực Kyushu, cá aji được nướng và nghiền ra, sau đó nướng lại với tương miso, ăn kèm với nước dùng lạnh, nấu từ cá ngừ khô bào mỏng hun khói. Món này có tên là hiya-jiru. Ở quần đảo Izu, người ta có món kusaya. Cá aji được rạch ra, ngâm trong một dung dịch lên men, rồi phơi khô, sau đó đem nướng. Tuy nhiên, món này có mùi rất nặng vì vậy khi chế biến thường phải lưu ý để không ảnh hưởng đến người khác.

Chi tiết

Nhật Bản áp dụng công nghệ nhận dạng khuôn mặt trong quản lý xuất nhập cảnh

Bộ Nội vụ và Thông tin Nhật Bản ngày 18/11 đã công bố kết quả thử nghiệm công nghệ nhận dạng khuôn mặt qua ảnh chụp để xây dựng dữ liệu quản lý hoạt động xuất nhập cảnh tại các sân bay quốc tế đối với du khách.

index

Với tỷ lệ sai số chỉ ở mức 0,26%, Bộ Nội vụ cho biết công nghệ nhận dạng khuôn mặt có thể được áp dụng kể từ năm 2017 nhằm tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động xuất nhập cảnh của khách du lịch Nhật Bản và quốc tế.

Quá trình thử nghiệm công nghệ nhận dạng khuôn mặt được áp dụng trong vòng 1 tháng, kể từ đầu tháng 8 vừa qua, với đối tượng gần 22.300 người Nhật tại hai sân bay quốc tế Haneda và Narita ở khu vực Tokyo.

Những người thử nghiệm được yêu cầu đứng im để máy tính chụp lại khuôn mặt và tự động đối chiếu với các dữ liệu trên hộ chiếu của người được thử nghiệm.

Kết quả sau đó cho thấy máy tính đã nhận dạng đúng đối tượng với các thông số phù hợp với cơ sở dữ liệu ghi trên hộ chiếu. Đặc biệt, kết quả thử nghiệm lần này đã có bước cải thiện rất tiến bộ so với lần thử nghiệm năm 2012 khi tỷ lệ sai số lên tới 17,7%.

Nhằm hướng tới việc chuẩn bị cho thế vận hội Olympic 2020 ở Tokyo, Bộ Nội vụ Nhật Bản xác định việc du khách tới nước này sẽ gia tăng đột biến, do đó cần phải có các biện pháp đánh giá, quản lý việc xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu.

Việc áp dụng công nghệ nhận dạng khuôn mặt được xem nằm trong nhóm các biện pháp tổng thể bao gồm cả tăng cường đội ngũ nhân viên hải quan, hệ thống máy móc, thiết bị chuyên dụng phục vụ cho công tác kiểm tra, kiểm soát của Nhật Bản./.

Chi tiết

Nhật Bản áp dụng công nghệ nhận dạng khuôn mặt trong quản lý xuất nhập cảnh

Bộ Nội vụ và Thông tin Nhật Bản ngày 18/11 đã công bố kết quả thử nghiệm công nghệ nhận dạng khuôn mặt qua ảnh chụp để xây dựng dữ liệu quản lý hoạt động xuất nhập cảnh tại các sân bay quốc tế đối với du khách.

index

Với tỷ lệ sai số chỉ ở mức 0,26%, Bộ Nội vụ cho biết công nghệ nhận dạng khuôn mặt có thể được áp dụng kể từ năm 2017 nhằm tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động xuất nhập cảnh của khách du lịch Nhật Bản và quốc tế.

Quá trình thử nghiệm công nghệ nhận dạng khuôn mặt được áp dụng trong vòng 1 tháng, kể từ đầu tháng 8 vừa qua, với đối tượng gần 22.300 người Nhật tại hai sân bay quốc tế Haneda và Narita ở khu vực Tokyo.

Những người thử nghiệm được yêu cầu đứng im để máy tính chụp lại khuôn mặt và tự động đối chiếu với các dữ liệu trên hộ chiếu của người được thử nghiệm.

Kết quả sau đó cho thấy máy tính đã nhận dạng đúng đối tượng với các thông số phù hợp với cơ sở dữ liệu ghi trên hộ chiếu. Đặc biệt, kết quả thử nghiệm lần này đã có bước cải thiện rất tiến bộ so với lần thử nghiệm năm 2012 khi tỷ lệ sai số lên tới 17,7%.

Nhằm hướng tới việc chuẩn bị cho thế vận hội Olympic 2020 ở Tokyo, Bộ Nội vụ Nhật Bản xác định việc du khách tới nước này sẽ gia tăng đột biến, do đó cần phải có các biện pháp đánh giá, quản lý việc xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu.

Việc áp dụng công nghệ nhận dạng khuôn mặt được xem nằm trong nhóm các biện pháp tổng thể bao gồm cả tăng cường đội ngũ nhân viên hải quan, hệ thống máy móc, thiết bị chuyên dụng phục vụ cho công tác kiểm tra, kiểm soát của Nhật Bản./.

Chi tiết

Thủ tục xin visa Nhật

Thủ tục xin visa Nhật, những điều cần lưu ý khi xin visa nhật bản
1) Visa ngắn hạn (thăm người quen hoặc bạn bè/ du lịch):

(1) Hộ chiếu

(2) Tờ khai xin cấp Visa (theo mẫu) 1 tờ

(3) 01 ảnh 4,5cmx 4,5cm

(4) Tài liệu chứng minh mối quan hệ bạn bè (Trừ trường hợp du lịch)

+ Ảnh chụp chung

+ Thư từ, email

+ Bản kê chi tiết các cuộc gọi điện thoại quốc tế

(5) Tài liệu chứng minh khả năng chi trả kinh phí cho chuyến đi:

+ Giấy chứng nhận thu nhập do cơ quan có thẩm quyền cấp

+ Giấy chứng nhận số dư tiền gửi ngân hàng

Tài liệu phía Nhật Bản chuẩn bị

(1) Giấy lý do mời (theo mẫu)

(2) Lịch trình ở Nhật (theo mẫu)

* Trường hợp thăm bạn bè, người bảo lãnh chịu chi phí ở mục (5) phía trên, hãy xuất trình các tài liệu từ mục (3)-(5) sau:

(3) Giấy chứng nhận bảo lãnh (theo mẫu)

(4) Một trong những tài liệu sau liên quan đến người bảo lãnh

+ Giấy chứng nhận thu nhập

+ Giấy chứng nhận số dư tiền gửi ngân hàng

+ Bản lưu giấy đăng ký nộp thuế (Bản sao)

+ Giấy chứng nhận nộp thuế( bản ghi rõ tổng thu nhập)

(5) Phiếu công dân (Bản có ghi quan hệ của các thành viên trong gia đình)

*Trường hợp người mời hoặc người bảo lãnh là người nước ngoài, xuất trình “Giấy chứng nhận có ghi rõ các hạng mục đăng ký người nước ngoài” và copy hộ chiếu thay cho “Phiếu công dân”

Japan-visa

2) Visa dài hạn (du học, đi học tiếng, vợ / chồng người Nhật , Visa lao động…)

Trường hợp ở Nhật quá 90 ngày hoặc làm những công việc với mục đích sinh lợi, đề nghị trước hết phải xin giấy chứng nhận đủ tư cách lưu trú ở Nhật Bản tại Cục quản lý xuất nhập cảnh địa phương Bộ tư pháp Nhật
nơi gần nhất (Số điện thoại Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ tư pháp Nhật: 03-3580-4111).

(1) Hộ chiếu

(2) Tờ khai xin cấp Visa (theo mẫu) 1 tờ

(3) 01 ảnh 4,5cm x 4,5cm

(4) Giấy chứng nhận đủ tư cách lưu trú tại Nhật

(5) Tài liệu xác nhận chính xác bản thân (01 bản)

+ Trường hợp đi học tiếng, du học: Giấy phép nhập học

+ Trường hợp đi lao động kỹ thuật, kỹ năng: Bản hợp đồng lao động, giấy thông báo tuyển dụng…

+ Trường hợp đi tu nghiệp: Giấy tiếp nhận tu nghiệp…

+ Trường hợp vợ/chồng người Nhật: Bản sao hộ tịch sau khi đã nhập hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận kết hôn do chính phủ Việt Nam cấp

+ Trường hợp vợ/ chồng người vĩnh trú ở Nhật lâu dài: Giấy chứng nhận đã
nộp đăng ký kết hôn hoặc giấy khai sinh do chính phủ Việt Nam cấp

+ Trường hợp người định cư ở Nhật: Giấy khai sinh hoặc giấy chứng nhận kết hôn do chính phủ Việt Nam cấp

Ngoàinhững hồ sơ nêu trên, tùy trường hợp có thể Đại Sứ Quán hoặc Bộ Ngoại Giao sẽ yêu cầu xuất trình thêm giấy tờ khác. Xin lưu ý, trường hợp không xuất trình thêm những giấy tờ được yêu cầu có thể sẽ không được tiếp nhận hồ sơ Visa hoặc chậm cấp Visa.

3) Thời gian làm việc của bộ phận cấp Visa :

(1) Thời gian tiếp nhận hồ sơ: Tất cả các ngày trong tuần từ thứ Hai đến thứ Sáu (trừ những ngày nghỉ lễ của Sứ Quán)

Buổi sáng : từ 8h30 đến 11h30

(2) Thời gian trả kết quả Visa: Tất cả các ngày trong tuần từ thứ Hai đến thứ Sáu (trừ những ngày nghỉ lễ của Sứ Quán)

Buổi chiều : từ 1h30 đến 5h00

4) Thời gian cần thiết

5 ngày kể từ ngày nộp đơn xin (có trường hợp cần thời gian xem xét nhiều hơn 5 ngày)

5) Lệ phí

– Visa hiệu lực 1 lần: 430.000 VNĐ

– Visa hiệu lực nhiều lần: 860.000 VNĐ

6)Tiêu chuẩn cơ bản theo quy định về việc cấp visa

Theoquy định, nếu người xin cấp visa thỏa mãn các yêu cầu dưới đây, trong trường hợp xét thấy việc cấp visa là hợp lý, sẽ được cấp visa.

– Người xin visa được xác nhận chính xác là có hộ chiếu còn hạn sử dụng, có quyền và tư cách được trở về nước mình hoặc tái nhập quốc lại nước người đó đang lưu trú.

– Hồ sơ xuất trình xin visa phải đầy đủ, hợp lệ.

– Hoạt động dự định của người xin visa tại Nhật hoặc thân phận, vị trí và thời hạn lưu trú của người xin visa
phải phù hợp với tư cách lưu trú và thời hạn lưu trú được quy định tại
Luật quản lý xuất nhập cảnh và tị nạn (Pháp lệnh của Chính phủ số 319
ban hành năm 1951, dưới đây gọi là Luật nhập cư).

Chi tiết

Thủ tục xin visa Nhật

Thủ tục xin visa Nhật, những điều cần lưu ý khi xin visa nhật bản
1) Visa ngắn hạn (thăm người quen hoặc bạn bè/ du lịch):

(1) Hộ chiếu

(2) Tờ khai xin cấp Visa (theo mẫu) 1 tờ

(3) 01 ảnh 4,5cmx 4,5cm

(4) Tài liệu chứng minh mối quan hệ bạn bè (Trừ trường hợp du lịch)

+ Ảnh chụp chung

+ Thư từ, email

+ Bản kê chi tiết các cuộc gọi điện thoại quốc tế

(5) Tài liệu chứng minh khả năng chi trả kinh phí cho chuyến đi:

+ Giấy chứng nhận thu nhập do cơ quan có thẩm quyền cấp

+ Giấy chứng nhận số dư tiền gửi ngân hàng

Tài liệu phía Nhật Bản chuẩn bị

(1) Giấy lý do mời (theo mẫu)

(2) Lịch trình ở Nhật (theo mẫu)

* Trường hợp thăm bạn bè, người bảo lãnh chịu chi phí ở mục (5) phía trên, hãy xuất trình các tài liệu từ mục (3)-(5) sau:

(3) Giấy chứng nhận bảo lãnh (theo mẫu)

(4) Một trong những tài liệu sau liên quan đến người bảo lãnh

+ Giấy chứng nhận thu nhập

+ Giấy chứng nhận số dư tiền gửi ngân hàng

+ Bản lưu giấy đăng ký nộp thuế (Bản sao)

+ Giấy chứng nhận nộp thuế( bản ghi rõ tổng thu nhập)

(5) Phiếu công dân (Bản có ghi quan hệ của các thành viên trong gia đình)

*Trường hợp người mời hoặc người bảo lãnh là người nước ngoài, xuất trình “Giấy chứng nhận có ghi rõ các hạng mục đăng ký người nước ngoài” và copy hộ chiếu thay cho “Phiếu công dân”

Japan-visa

2) Visa dài hạn (du học, đi học tiếng, vợ / chồng người Nhật , Visa lao động…)

Trường hợp ở Nhật quá 90 ngày hoặc làm những công việc với mục đích sinh lợi, đề nghị trước hết phải xin giấy chứng nhận đủ tư cách lưu trú ở Nhật Bản tại Cục quản lý xuất nhập cảnh địa phương Bộ tư pháp Nhật
nơi gần nhất (Số điện thoại Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ tư pháp Nhật: 03-3580-4111).

(1) Hộ chiếu

(2) Tờ khai xin cấp Visa (theo mẫu) 1 tờ

(3) 01 ảnh 4,5cm x 4,5cm

(4) Giấy chứng nhận đủ tư cách lưu trú tại Nhật

(5) Tài liệu xác nhận chính xác bản thân (01 bản)

+ Trường hợp đi học tiếng, du học: Giấy phép nhập học

+ Trường hợp đi lao động kỹ thuật, kỹ năng: Bản hợp đồng lao động, giấy thông báo tuyển dụng…

+ Trường hợp đi tu nghiệp: Giấy tiếp nhận tu nghiệp…

+ Trường hợp vợ/chồng người Nhật: Bản sao hộ tịch sau khi đã nhập hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận kết hôn do chính phủ Việt Nam cấp

+ Trường hợp vợ/ chồng người vĩnh trú ở Nhật lâu dài: Giấy chứng nhận đã
nộp đăng ký kết hôn hoặc giấy khai sinh do chính phủ Việt Nam cấp

+ Trường hợp người định cư ở Nhật: Giấy khai sinh hoặc giấy chứng nhận kết hôn do chính phủ Việt Nam cấp

Ngoàinhững hồ sơ nêu trên, tùy trường hợp có thể Đại Sứ Quán hoặc Bộ Ngoại Giao sẽ yêu cầu xuất trình thêm giấy tờ khác. Xin lưu ý, trường hợp không xuất trình thêm những giấy tờ được yêu cầu có thể sẽ không được tiếp nhận hồ sơ Visa hoặc chậm cấp Visa.

3) Thời gian làm việc của bộ phận cấp Visa :

(1) Thời gian tiếp nhận hồ sơ: Tất cả các ngày trong tuần từ thứ Hai đến thứ Sáu (trừ những ngày nghỉ lễ của Sứ Quán)

Buổi sáng : từ 8h30 đến 11h30

(2) Thời gian trả kết quả Visa: Tất cả các ngày trong tuần từ thứ Hai đến thứ Sáu (trừ những ngày nghỉ lễ của Sứ Quán)

Buổi chiều : từ 1h30 đến 5h00

4) Thời gian cần thiết

5 ngày kể từ ngày nộp đơn xin (có trường hợp cần thời gian xem xét nhiều hơn 5 ngày)

5) Lệ phí

– Visa hiệu lực 1 lần: 430.000 VNĐ

– Visa hiệu lực nhiều lần: 860.000 VNĐ

6)Tiêu chuẩn cơ bản theo quy định về việc cấp visa

Theoquy định, nếu người xin cấp visa thỏa mãn các yêu cầu dưới đây, trong trường hợp xét thấy việc cấp visa là hợp lý, sẽ được cấp visa.

– Người xin visa được xác nhận chính xác là có hộ chiếu còn hạn sử dụng, có quyền và tư cách được trở về nước mình hoặc tái nhập quốc lại nước người đó đang lưu trú.

– Hồ sơ xuất trình xin visa phải đầy đủ, hợp lệ.

– Hoạt động dự định của người xin visa tại Nhật hoặc thân phận, vị trí và thời hạn lưu trú của người xin visa
phải phù hợp với tư cách lưu trú và thời hạn lưu trú được quy định tại
Luật quản lý xuất nhập cảnh và tị nạn (Pháp lệnh của Chính phủ số 319
ban hành năm 1951, dưới đây gọi là Luật nhập cư).

Chi tiết

Những lý do trượt ViSa thường gặp phải khi làm hồ sơ du học Nhật Bản

Những lý do trượt ViSa thường gặp phải khi làm hồ sơ du học Nhật Bản, vài điều lưu ý khi xin visa vào nhật bản
Huong-dan-cac-thu-tuc-can-thiet-3

Những lý do trượt ViSa thường gặp phải khi làm hồ sơ du học Nhật Bản

Nhật Bản là đất nước được rất nhiều các bạn học sinh chọn là điểm đến du học. Một bộ hồ sơ du học Nhật Bản của du học sinh gồm nhất nhiều giấy tờ và thủ tục. Với cơ chế tuyển sinh “mở cửa” của Nhật Bản như hiện nay, một “chiếc vé” đi du hoc Nhật Bản không phải là khó, nếu bạn chuẩn bị được một bộ hồ sơ du học Nhật Bản hoàn hảo, và hiểu biết thấu đáo những lỗi mà bạn có thể mắc phải khi chuẩn bị hồ sơ du học. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp các bạn bị trượt visa khi làm thủ tục. Chúng tôi tổng kết một vài lý do khiến bạn bị trượt như sau:

1. Lý do du học không hợp lý:

Bạn cần phải có một lý do du học đủ thuyết phục đối với cục quản lý nhập cảnh Nhật Bản bao gồm nêu rõ ước mơ du học, định hướng tương lai, quá trình học tập và người bảo lãnh.

2. Không khai báo lý lịch của du học sinh một cách chính xác, hoặc khai không trùng khớp, nhầm lẫn thông tin:

a) Học vấn và quá trình làm việc không nhất quán.
b) Không khai báo quá trình làm việc.
c) Không khai báo quá trình nhập cảnh.
d) Có thời gian trống trong thời gian học tập mà không nêu ra lý do hợp lý.
e) Nhầm lẫn họ tên, địa chỉ, ngày tháng năm sinh giữa các giấy tờ.

3. Hồ sơ của du học sinh không đáng tin cậy

a) Bằng cấp bị tẩy xóa.
b) Thiếu bằng cấp.
c) Bằng cấp chưa được chứng thực.
d) Thiếu dấu công chứng.
4. Không chứng minh được tư cách lưu trú một cách rõ ràng: nhập học, hay du học…
5. Không chứng minh được tài chính đầy đủ.
a) Không chứng minh được mối quan hệ nhân thân giữa người đi du học Nhật Bản và người chi trả tài chính một cách rõ ràng.
b) Về tổng thu nhập của người bảo trợ tài chính, không chứng minh được khả năng chi trả tài chính
c) Hồ sơ chứng minh khả năng chi trả tài chính không đầy đủ.

6. Không chứng minh được khả năng tiếng Nhật của mình.

a) Khi được nhà trường phỏng vấn bằng tiếng Nhật, du học sinh đã không trả lời được.
b) Không dự đủ 250 tiết học tiếng Nhật.
c) Chưa có chứng chỉ tiếng Nhật cấp N5 hoặc các chứng chỉ trình độ tương đương.

Chi tiết

Những lý do trượt ViSa thường gặp phải khi làm hồ sơ du học Nhật Bản

Những lý do trượt ViSa thường gặp phải khi làm hồ sơ du học Nhật Bản, vài điều lưu ý khi xin visa vào nhật bản
Huong-dan-cac-thu-tuc-can-thiet-3

Những lý do trượt ViSa thường gặp phải khi làm hồ sơ du học Nhật Bản

Nhật Bản là đất nước được rất nhiều các bạn học sinh chọn là điểm đến du học. Một bộ hồ sơ du học Nhật Bản của du học sinh gồm nhất nhiều giấy tờ và thủ tục. Với cơ chế tuyển sinh “mở cửa” của Nhật Bản như hiện nay, một “chiếc vé” đi du hoc Nhật Bản không phải là khó, nếu bạn chuẩn bị được một bộ hồ sơ du học Nhật Bản hoàn hảo, và hiểu biết thấu đáo những lỗi mà bạn có thể mắc phải khi chuẩn bị hồ sơ du học. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp các bạn bị trượt visa khi làm thủ tục. Chúng tôi tổng kết một vài lý do khiến bạn bị trượt như sau:

1. Lý do du học không hợp lý:

Bạn cần phải có một lý do du học đủ thuyết phục đối với cục quản lý nhập cảnh Nhật Bản bao gồm nêu rõ ước mơ du học, định hướng tương lai, quá trình học tập và người bảo lãnh.

2. Không khai báo lý lịch của du học sinh một cách chính xác, hoặc khai không trùng khớp, nhầm lẫn thông tin:

a) Học vấn và quá trình làm việc không nhất quán.
b) Không khai báo quá trình làm việc.
c) Không khai báo quá trình nhập cảnh.
d) Có thời gian trống trong thời gian học tập mà không nêu ra lý do hợp lý.
e) Nhầm lẫn họ tên, địa chỉ, ngày tháng năm sinh giữa các giấy tờ.

3. Hồ sơ của du học sinh không đáng tin cậy

a) Bằng cấp bị tẩy xóa.
b) Thiếu bằng cấp.
c) Bằng cấp chưa được chứng thực.
d) Thiếu dấu công chứng.
4. Không chứng minh được tư cách lưu trú một cách rõ ràng: nhập học, hay du học…
5. Không chứng minh được tài chính đầy đủ.
a) Không chứng minh được mối quan hệ nhân thân giữa người đi du học Nhật Bản và người chi trả tài chính một cách rõ ràng.
b) Về tổng thu nhập của người bảo trợ tài chính, không chứng minh được khả năng chi trả tài chính
c) Hồ sơ chứng minh khả năng chi trả tài chính không đầy đủ.

6. Không chứng minh được khả năng tiếng Nhật của mình.

a) Khi được nhà trường phỏng vấn bằng tiếng Nhật, du học sinh đã không trả lời được.
b) Không dự đủ 250 tiết học tiếng Nhật.
c) Chưa có chứng chỉ tiếng Nhật cấp N5 hoặc các chứng chỉ trình độ tương đương.

Chi tiết

Thủ Tục Xin Visa Vĩnh Trú Tại Nhật

Thủ Tục Xin Visa Vĩnh Trú Tại Nhật, Những việc cần làm để xin visa vĩnh trú tại Nhật
23511-291x300
Thủ Tục Xin Visa Vĩnh Trú Tại Nhật

1. Đối tượng:

Người nước ngoài đang ở Nhật muốn chuyển visa sang dạng vĩnh trú, hoặc người nước ngoài sinh ra tại Nhật muốn xin visa vĩnh trú (từ nay viết tắt là đương sự.)

2. Điều kiện:

(2-1) Có hành vi tốt.

(2-2) Có điều kiện kinh tế hoặc có tay nghề/kĩ năng tự đảm bảo cuộc sống.

(2-3) Việc đương sự vĩnh trú ở Nhật mang lại lợi ích cho nước Nhật.

Chú ý: Trường hợp đương sự là vợ/chồng/con của người Nhật hoặc của người đã có visa vĩnh trú thì không cần các điều kiện 2-1 và 2-2.

(2-4) Điều kiện đã sống bao lâu tại Nhật áp dụng riêng cho từng trường hợp.

Về cơ bản, đương sự phải sống liên tục ở Nhật trên 10 năm trong đó có trên 5 năm sống với tư cách visa làm việc ví dụ Chuyên gia về nhân loại học hoặc dịch vụ quốc tế (Specialist in Humanities/International Services), Kỹ sư (Engineer). Thêm nữa visa hiện tại của đương sự phải có thời hạn dài nhất trong các mức cho phép. Ví dụ nếu là kỹ sư thì visa này phải có giá trị là 3 năm.

Nếu đương sự là vợ/chồng của người Nhật hoặc là vợ/chồng của người đã có visa vĩnh trú thì cần điều kiện là đã sống liên tục ở Nhật trên 3 năm tính từ ngày kết hôn.

Nếu đương sự là con (con đẻ, con nuôi) của người Nhật hoặc là con của người đã có visa vĩnh trú thì cần điều kiện là đã sống liên tục ở Nhật trên 1 năm.

Nếu đương sự có tư cách người tị nạn thì cần điều kiện là sống liên tục ở Nhật trên 5 năm tính từ ngày nhận tư cách tị nạn.

Nếu đương sự có cống hiến đặc biệt cho nước Nhật trong các lĩnh vực như ngoại giao, kinh tế, xã hội, văn hóa v.v. thì cần điều kiện là sống liên tục ở Nhật trên 5 năm.

3. Kì hạn nộp giấy tờ:

– Người muốn chuyển đổi sang visa vĩnh trú: Trước khi visa hiện tại hết hạn. (Chú ý: nếu trong quá trình làm thủ tục xin visa vĩnh trú mà visa hiện tại hết hạn thì trước ngày visa hết hạn phải làm thủ tục xin visa dạng cư trú đặc biệt.)

– Người muốn xin mới visa vĩnh trú: Làm thủ tục trong vòng 30 ngày sau khi sinh hoặc 30 ngày sau khi phát sinh lý do cần xin vĩnh trú.

4. Cách nộp giấy tờ: Viết đơn theo mẫu có sẵn, chuẩn bị các giấy tờ bổ sung và nộp tất cả cho cục quản lý xuất nhập cảnh (CQLXNC) gần nhất.

5. Thời gian kể từ khi CQLXNC thụ lý hồ sơ cho tới khi có kết quả: 6 tháng đến 1 năm, tùy từng CQLXNC cũng như tùy từng trường hợp.

6. Người làm thủ tục:

Một trong những người sau có thể tiến hành làm thủ tục.

– Bản thân đương sự.

– Những người/đơn vị có giấy phép của cục trưởng CQLXNC cho phép làm các nghiệp vụ liên quan đến đại lý xin visa vĩnh trú.
– Luật sư hoặc công chứng viên có đăng ký hành nghề với CQLXNC.

– Người đại diện pháp lý của đương sự.

– Gia đình hoặc người cùng chung sống với đương sự trong trường hợp đặc biệt, khi đương sự mắc bệnh v.v.

CHÚ Ý: Trong bất kỳ trường hợp nào ở trên thì đương sự cũng phải đảm bảo 1 điều kiện là đang sinh sống tại Nhật.

7. Lệ phí:

– Nếu được cấp visa vĩnh trú thì phải nộp lệ phí 8,000 yên.
– Nếu bị từ chối cấp visa thì không phải nộp lệ phí.

8. Các giấy tờ cần thiết: tùy thuộc đương sự hiện đang sống tại Nhật với visa dạng nào.

8.1 Nếu đương sự hiện đang có visa Vợ/chồng/con của người Nhật) hoặc Vợ/chồng/con của người có visa vĩnh trú)

8.2 Nếu đương sự hiện có visa (Long Term Resident, visa định trú). Chú ý visa định trú (Long Term Resident) khác với visa vĩnh trú (Permanent Resident).

8.3 Nếu đương sự hiện có visa liên quan tới công việc, ví dụ (Specialist in Humanities/International Services), (Engineer), lao động có tay nghề (Skilled Labor) hoặc visa theo gia đình (Dependent).

9. Mẫu đơn:
– Đơn xin visa vĩnh trú:
– Giấy chứng minh bảo lãnh: bản tiếng Anh hoặc tiếng Nhật.

Chi tiết

Thủ Tục Xin Visa Vĩnh Trú Tại Nhật

Thủ Tục Xin Visa Vĩnh Trú Tại Nhật, Những việc cần làm để xin visa vĩnh trú tại Nhật
23511-291x300
Thủ Tục Xin Visa Vĩnh Trú Tại Nhật

1. Đối tượng:

Người nước ngoài đang ở Nhật muốn chuyển visa sang dạng vĩnh trú, hoặc người nước ngoài sinh ra tại Nhật muốn xin visa vĩnh trú (từ nay viết tắt là đương sự.)

2. Điều kiện:

(2-1) Có hành vi tốt.

(2-2) Có điều kiện kinh tế hoặc có tay nghề/kĩ năng tự đảm bảo cuộc sống.

(2-3) Việc đương sự vĩnh trú ở Nhật mang lại lợi ích cho nước Nhật.

Chú ý: Trường hợp đương sự là vợ/chồng/con của người Nhật hoặc của người đã có visa vĩnh trú thì không cần các điều kiện 2-1 và 2-2.

(2-4) Điều kiện đã sống bao lâu tại Nhật áp dụng riêng cho từng trường hợp.

Về cơ bản, đương sự phải sống liên tục ở Nhật trên 10 năm trong đó có trên 5 năm sống với tư cách visa làm việc ví dụ Chuyên gia về nhân loại học hoặc dịch vụ quốc tế (Specialist in Humanities/International Services), Kỹ sư (Engineer). Thêm nữa visa hiện tại của đương sự phải có thời hạn dài nhất trong các mức cho phép. Ví dụ nếu là kỹ sư thì visa này phải có giá trị là 3 năm.

Nếu đương sự là vợ/chồng của người Nhật hoặc là vợ/chồng của người đã có visa vĩnh trú thì cần điều kiện là đã sống liên tục ở Nhật trên 3 năm tính từ ngày kết hôn.

Nếu đương sự là con (con đẻ, con nuôi) của người Nhật hoặc là con của người đã có visa vĩnh trú thì cần điều kiện là đã sống liên tục ở Nhật trên 1 năm.

Nếu đương sự có tư cách người tị nạn thì cần điều kiện là sống liên tục ở Nhật trên 5 năm tính từ ngày nhận tư cách tị nạn.

Nếu đương sự có cống hiến đặc biệt cho nước Nhật trong các lĩnh vực như ngoại giao, kinh tế, xã hội, văn hóa v.v. thì cần điều kiện là sống liên tục ở Nhật trên 5 năm.

3. Kì hạn nộp giấy tờ:

– Người muốn chuyển đổi sang visa vĩnh trú: Trước khi visa hiện tại hết hạn. (Chú ý: nếu trong quá trình làm thủ tục xin visa vĩnh trú mà visa hiện tại hết hạn thì trước ngày visa hết hạn phải làm thủ tục xin visa dạng cư trú đặc biệt.)

– Người muốn xin mới visa vĩnh trú: Làm thủ tục trong vòng 30 ngày sau khi sinh hoặc 30 ngày sau khi phát sinh lý do cần xin vĩnh trú.

4. Cách nộp giấy tờ: Viết đơn theo mẫu có sẵn, chuẩn bị các giấy tờ bổ sung và nộp tất cả cho cục quản lý xuất nhập cảnh (CQLXNC) gần nhất.

5. Thời gian kể từ khi CQLXNC thụ lý hồ sơ cho tới khi có kết quả: 6 tháng đến 1 năm, tùy từng CQLXNC cũng như tùy từng trường hợp.

6. Người làm thủ tục:

Một trong những người sau có thể tiến hành làm thủ tục.

– Bản thân đương sự.

– Những người/đơn vị có giấy phép của cục trưởng CQLXNC cho phép làm các nghiệp vụ liên quan đến đại lý xin visa vĩnh trú.
– Luật sư hoặc công chứng viên có đăng ký hành nghề với CQLXNC.

– Người đại diện pháp lý của đương sự.

– Gia đình hoặc người cùng chung sống với đương sự trong trường hợp đặc biệt, khi đương sự mắc bệnh v.v.

CHÚ Ý: Trong bất kỳ trường hợp nào ở trên thì đương sự cũng phải đảm bảo 1 điều kiện là đang sinh sống tại Nhật.

7. Lệ phí:

– Nếu được cấp visa vĩnh trú thì phải nộp lệ phí 8,000 yên.
– Nếu bị từ chối cấp visa thì không phải nộp lệ phí.

8. Các giấy tờ cần thiết: tùy thuộc đương sự hiện đang sống tại Nhật với visa dạng nào.

8.1 Nếu đương sự hiện đang có visa Vợ/chồng/con của người Nhật) hoặc Vợ/chồng/con của người có visa vĩnh trú)

8.2 Nếu đương sự hiện có visa (Long Term Resident, visa định trú). Chú ý visa định trú (Long Term Resident) khác với visa vĩnh trú (Permanent Resident).

8.3 Nếu đương sự hiện có visa liên quan tới công việc, ví dụ (Specialist in Humanities/International Services), (Engineer), lao động có tay nghề (Skilled Labor) hoặc visa theo gia đình (Dependent).

9. Mẫu đơn:
– Đơn xin visa vĩnh trú:
– Giấy chứng minh bảo lãnh: bản tiếng Anh hoặc tiếng Nhật.

Chi tiết

Những điều cần biết về thẻ ngoại kiều

Những điều cần biết về thẻ ngoại kiều, vài nét về thẻ ngoại kiều, tại sao lại cần thẻ ngoại kiều khi vào nhật bản
employ_p4

Những người có quốc tịch ngoại quốc (nghĩa là người ngoại quốc) nếu ở Nhật trên 90 ngày phải đến đăng ký tại tòa hành chánh nơi cư trú chiếu theo luật ngoại kiều. Những người có 2 quốc tịch, quốc tịch Nhật và quốc tịch ngoại quốc không cần phải đăng ký ngoại kiều. Nhân viên bộ ngoại giao, nhân viên lãnh sự quán, quân nhân Mỹ và gia đình cũng không cần đăng ký ngoại kiều. Đăng ký thẻ ngọai kiều * Gaikokujin Toroku = Ðăng ký ngoại kiều là gì?
Những người có quốc tịch ngoại quốc (nghĩa là người ngoại quốc) nếu ở Nhật trên 90 ngày phải đến đăng ký tại tòa hành chánh nơi cư trú chiếu theo luật ngoại kiều. Những người có 2 quốc tịch, quốc tịch Nhật và quốc tịch ngoại quốc không cần phải đăng ký ngoại kiều. Nhân viên bộ ngoại giao, nhân viên lãnh sự quán, quân nhân Mỹ và gia đình cũng không cần đăng ký ngoại kiều.

* Phải đăng ký khi (Khi vào Nhật)

(1) Những người có quốc tịch ngoại quốc nếu có dự định lưu lại Nhật trên 90 ngày phải đến đăng ký tại tòa hành chánh nơi cư trú. Dưới 90 ngày khỏi cần đăng ký

(2) Hồ sơ cần thiết
– Hộ chiếu
– 2 tấm hình (4.5 x 3.5) dưới 16 tuổi khỏi cần
(Khi sanh con)

(1) Khi sanh con, phải đăng ký ở tòa hành chánh trong vòng 60 ngày (cần chú ý vì thủ tục Zairyu Shikaku Shutoku = Xin tư cách lưu trú cho bé phải làm trong vòng 30 ngày)
(2) Hồ sơ cần thiết Shussei Todoke Juri Shomeisho = Giấy chứng nhận đã làm khai sanh hay hộ chiếu có tên của bé (nếu chưa lấy được hộ chiếu vẫn có thể đăng ký)
1. Giấy chứng nhận đã làm khai sanh Bạn mang Shussei Shomeisho = Giấy chứng nhận đã sanh con do bác sĩ hay bà mụ cấp đến tòa hành chánh làm khai sanh cho bé thì sẽ được cấp giấy chứng nhận đã làm khai sanh.

2. Ðể cho tên bé có trên hộ chiếu Sau khi nộp giấy chứng nhận đã làm khai sanh cho bộ ngoại giao Nhật sẽ được cấp giấy thừa nhận. Mang giấy thừa nhận đó đưa cho đại sứ quán (hay lãnh sự quán) của quốc gia mình xin ghi tên bé vào hộ chiếu. Thủ tục này khác nhau tùy theo quốc gia, cho nên cần hỏi trước.
(Khi mất quốc tịch Nhật)
(1) Phải đăng ký ngoại kiều ở tòa hành chánh trong vòng 60 ngày sau khi mất quốc tịch
(2) Hồ sơ cần thiết
– Giấy tờ chứng minh đã mất quốc tịch Nhật
– 2 tấm hình (4.5 x 3.5) dưới 16 tuổi khỏi cần
* Ði đăng ký thế
(1) Trên nguyên tắc, chính bản thân đương sự phải đi đăng ký ngoại kiều. Nhưng đối với trẻ em dưới 16 tuổi, người
bệnh.v.v…không thể đến đăng ký thì người ở cùng hộ trên 16 tuổi có thể đi thay.
(2) Khi đi thay cần mang thêm
– Thẻ ngoại kiều của người đi thay
– Nếu là người bệnh thì phải có giấy bác sĩ.v.v…
* Thẻ ngoại kiều
Nếu đăng ký ngoại kiều Bạn sẽ nhận được [Gaikokujin Toroku Shomeisho = Thẻ ngoại kiều]. [Gaikokujin Toroku VN05-01 Shomeisho] là căn cước của Bạn, người trên 16 tuổi lúc nào cũng phải mang theo. Sau khi đăng ký, sẽ được chỉ định thời gian đến nhận thẻ (từ khoảng 2 tuần cho đến 1 tháng sau). Dưới 16 tuổi sẽ được cấp ngay.

Chi tiết

Miễn lệ phí xin thị thực nhập cảnh Nhật Bản cho người nước ngoài đến thăm 3 tỉnh bị thiên tai (tỉnh Miyagi, Fukushima và Iwate)

Miễn lệ phí xin thị thực nhập cảnh Nhật Bản cho người nước ngoài đến thăm 3 tỉnh bị thiên tai (tỉnh Miyagi, Fukushima và Iwate)
Fukushima-nuclear-power-p-008-_edit

Người xin thị thực nhập cảnh Nhật Bản nếu thỏa mãn những điều kiện dưới đây, khi xin thị thực từ ngày 15 tháng 11 năm 2011 sẽ được miễn lệ phí xin thị thực (không áp dụng nếu xin thị thực từ ngày 14 tháng 11 năm 2011 về trước)

1. Khu vực áp dụng miễn lệ phí xin thị thực: tỉnh Miyagi, Fukushima và Iwate

2. Thời gian áp dụng:

Hồ sơ xin thị thực được thụ lý từ ngày 15 tháng 11 năm 2011 đến ngày 31 tháng 3 năm 2016

3. Đối tượng áp dụng:
Tất cả những người nước ngoài xin thị thực đến thăm khu vực áp dụng miễn lệ phí xin thị thực theo chi tiết ở các mục a hay b dưới đây. Tiêu chuẩn này không chỉ áp dụng đối với thị thực một lần mà những trường hợp thị thực nhiều lần, xin giấy chứng nhận thông hành, làm việc hay lưu trú dài hạn cũng được áp dụng.

a) Trường hợp không phải thị thực lưu trú ngắn hạn
Người xin thị thực đến sinh sống và làm việc ngay tại khu vực áp dụng miễn lệ phí thị thực.

b) Trường hợp thị thực lưu trú ngắn hạn
Người xin thị thực đến lưu trú thời gian ngắn thăm khu vực áp dụng miễn lệ phí thị thực (không phân biệt mục đích lưu trú). Ngoài ra, không bắt buộc việc có lưu trú lại trong khu vực áp dụng hay không (đi về trong ngày cũng được áp dụng, không nhất thiết phải ở lại)

4. Thủ tục cần thiết
Thủ tục cần thiết để được miễn lệ phí xin thị thực được liệt kê ở các mục a hay b dưới đây. Nếu xuất trình được những giấy tờ tài liệu chứng minh việc đến thăm hoặc lưu trú tại khu vực áp dụng thì có thể được miễn lệ phí xin thị thực.
Sau khi đã được cấp thị thực, nếu như có thay đổi dự định ban đầu để đến thăm khu vực áp dụng miễn lệ phí thị thực mà muốn xin hoàn tiền lệ phí thị thực, thì trường hợp áp dụng miễn phí xin thị thực này được thực hiện dựa trên nội dung hồ sơ vào thời điểm xin thị thực, do đó không thể hoàn lại tiền sau khi đã được cấp thị thực.

a) Phải xuất trình những giấy tờ có thể xác nhận được địa chỉ lưu trú, làm việc hoặc học tập nằm trong khu vực được áp dụng miễn lệ phí xin thị thực ( ví dụ: Hợp đồng thuê lao động có ghi địa chỉ công ty làm việc, Giấy chứng nhận nhập học có ghi địa chỉ của trường, đối với các trường hợp định cư theo chồng hoặc vợ là người Nhật, người vĩnh trú hoặc định cư có thể kiểm tra theo Giấy cư trú hoặc Giấy đăng ký cư trú người nước ngoài của người đang cư trú tại Nhật Bản.

b) Trường hợp thị thực lưu trú ngắn hạn

Cần thiết phải thỏa mãn những điều kiện (1) hoặc (2) dưới đây
(1) Trong chương trình lưu trú có ghi nội dung đến thăm khu vực áp dụng miễn lệ phí thị thực.
(2) Phải xuất trình các giấy tờ chứng minh như giấy xác nhận đặt chỗ vé máy bay, giấy xác nhận đặt vé tàu biển, giấy xác nhận đặt chỗ xe điện ngầm, giấy xác nhận đặt phòng (trường hợp có ở lại) đến hoặc ở khu vực áp dụng miễn lệ phí xin thị thực, vé vào cửa tham dự các sự kiện diễn ra tại khu vực áp dụng. Ngoài ra, không bắt buộc phải mua vé, chỉ cần giấy xác nhận đã đặt chỗ.

c) Trường hợp không xuất trình giấy tờ chứng minh việc đến thăm khu vực áp dụng miễn phí xin thị thực
Nếu người xin thị thực trình bày việc đến thăm khu vực áp dụng miễn lệ phí xin thị thực mà không xuất trình được giấy tờ chứng minh được việc dự định đến thăm ấy sẽ không được áp dụng việc miễn lệ phí xin thị thực

5. Những giấy tờ cần thiết và việc xét duyệt
Những tiêu chuẩn lần này chỉ là việc miễn lệ phí xin thị thực chứ không phải là đơn giản hóa việc xét duyệt thị thực hoặc giảm bớt những giấy tờ cần thiết. Do đó, không có thay đổi gì về việc xét duyệt cũng như những giấy tờ cần thiết cho việc xin thị thực, việc cấp phát thị thực vẫn tùy thuộc vào kết quả xét duyệt, xin vui lòng chú ý.

Chi tiết

Hướng dẫn quy định khi nhập cảnh vào Nhật Bản

Hướng dẫn quy định khi nhập cảnh vào Nhật Bản
Japan-visa
Các quy định mới được xây dựng trong khuôn khổ các biện pháp phòng chống các hành vi khủng bố đòi hỏi người nước ngoài khi xin nhập cảnh vào Nhật phải nộp các thông tin cá nhân để kiểm soát. Theo đó, khi làm thủ tục nhập cảnh thì cá nhân đó sẽ được các kiểm soát viên yêu cầu lấy dấu vân tay và chụp ảnh nhận diện khuôn mặt, trước khi cho nhập cảnh. Bất cứ ai, không phân biệt quốc tịch nào, nếu thuộc quy định về thủ tục nhập cảnh mới mà từ chối cung cấp các thông tin trên sẽ không được phép vào Nhật Bản và được yêu cầu ra khỏi nước Nhật

Những người chịu ảnh hưởng của luật nhập cư mới:
Tất cả các công dân nước ngoài vào Nhật Bản sẽ phải chấp hành các quy định mới trừ các trường hợp sau đây:
1. Công dân vĩnh trú.
2. Người dưới 16 tuổi
3. Các cá nhân hoạt động trong tư cách “ngoại giao” hoặc “công vụ”
4. Những người được mời bởi người đứng đầu của cơ quan hành chính quốc gia.
5. Những người được quy định bởi pháp lệnh của Bộ Tư pháp là tương đương 3 và 4

Trình tự nhập cảnh mới
Những người nộp đơn xin nhập cảnh sẽ phải thực hiện thưo các thủ tục sau đây:

1. Người muốn vào Nhật phải nộp hộ chiếu của mình cho nhân viên kiểm soát nhập cảnh.
2. Nhận viên kiểm soát nhập cảnh sẽ giải thích các thủ tục cần tuân theo, người muốn nhập cảnh sẽ đặt ngón tay (cả 2 bàn tay ) lên các máy đọc dấu vân tay kỹ thuật số. Dấu vân tay sẽ được đọc và lưu trữ.
3. Một bức ảnh về khuôn mặt sẽ được chụp, camera được đặt phía trên của máy lấy dấu vân tay.
4. Nhân viên kiểm soát nhập cảnh sau đó sẽ thực hiện một cuộc phỏng vấn ngắn.
5. Sau khi hoàn tất các thủ tục trên, người muốn vào Nhật Bản sẽ nhận lại hộ chiếu của mình từ nhân viên.

Giải đáp thắc mắc:
Hỏi: Tại sao tôi cần phải lưu dấu vân tay và chụp ảnh khi làm thủ tục nhập cảnh:
Đáp: Bằng cách thu thập các dữ liệu cá nhân, chẳng hạn như dấu vân tay và ảnh khuôn mặt của các du khách đến Nhật, chúng tôi có thể xác định xem người nhập cảnh có nằm trong nhóm nguy cơ như : khủng bố hay những người đi du lịch không phải bằng hộ chiếu của mình hay không. Điều này sẽ giúp ngăn chặn các cuộc tấn công khủng bố.

Hỏi: Nếu tôi không thể cung cấp dấu vân tay của ngón trỏ?
Đáp: Nếu bạn không thể cung cấp dấu vân tay ngón trỏ vì lý do khách quan, chẳng hạn như ngón trỏ bị thương, bị mất… bạn sẽ được yêu cầu cung cấp dấu vân tay từ các ngón khác theo thứ tự quy định của Bộ Tư pháp. Bạn hãy thông báo cho nhân viên kiểm soát nhập cư về khó khăn đó.

Hỏi: Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi từ chối cung cấp dấu vân tay hay ảnh khuôn mặt.
Đáp: Nhân viên kiểm soát nhập cảnh sẽ xem xét một cách cẩn thận trường hợp của bạn để xem bạn có thuộc trường hợp được miễn hay không. Nếu đã được xác định là bạn không nằm trong bất kỳ nhóm được miễn các thủ tục này mà bạn vẫn từ chối lưu các thông tin cá nhân thì bạn sẽ bị từ chối nhập cảnh vào Nhật Bản và bị yêu cầu rời khỏi Nhật.

Hỏi: Các thông tin cá nhân mà tôi cung cấp khi làm thủ tục nhập cảnh lại sẽ được lưu trữ và bảo vệ như thế nào.
Đáp: Những thông tin nhận dạng cá nhân mà bạn cung cấp cho chúng tôi ( dấu vân tay và ảnh ) là các dữ liệu quan trọng. Và như vậy, chúng tôi sẽ lưu trữ và bảo vệ các dữ liệu của bạn đúng cách theo các quy định cơ bản của pháp luật về việc bảo vệ dữ liệu cá nhân. Tất cả các biện pháp cần thiết sẽ được thực hiện để đảm bảo an toàn cho các thông tin của bạn.

Chi tiết

Hướng dẫn chi tiết các thủ tục, giấy tờ cần thiết khi sống tại Nhật

Hướng dẫn chi tiết các thủ tục, giấy tờ cần thiết khi sống tại Nhật
Huong-dan-cac-thu-tuc-can-thiet-3
Thủ tục gia hạn, cấp lại hay đổi hộ chiếu

a. Gia hạn hộ chiếu

Thông thường hộ chiếu được cấp có giá trị trong 5 năm từ ngày cấp.Khi bạn học tập và nghiên cứu ở Nhật trong thời gian dài hơn 5 năm, hộ chiếu của bạn sẽ hết giá trị.Trước khi hết hạn bạn phải liên lạc ngay với Ðại sứ quán Việt Nam ở Tokyo Lãnh sự quán Việt Nam để hỏi thủ tục xin gia hạn hộ chiếu. Để được gia hạn, bạn phải mang trực tiếp hay gửi bằng thư bảo đảm đến Đại sứ quán hay Lãnh sự quán các giấy tờ sau đây:

1. Ðơn xin gia hạn hộ chiếu

2. Hộ chiếu

3. Giấy chứng nhận đang học tập do trường đại học cấp.

4. Lệ phí

5. Phong bì bảo đảm đã dán tem

Dich vu dang ky ket hon voi nguoi nuoc ngoai

b. Xin cấp lại và đổi hộ chiếu

Trường hợp bạn bị mất hộ chiếu, hộ chiếu rách nát, hết trang thì bạn phải liên lạc tới Ðại sứ quán hay Lãnh sự quán để hỏi thủ tục xin cấp lại hoặc đổi hộ chiếu mới. Các giấy tờ gửi bằng thư bảo đảm hay mang trực tiếp đến Đại sứ quán/Lãnh sự quán bao gồm:

1. Ðơn xin cấp (đổi) hộ chiếu (đơn tự viết, nêu rõ lí do)

2. Hộ chiếu bị rách nát hay hết trang (không phải trường hợp mất hộ chiếu)

3. Các giấy tờ liên quan

4. Lệ phí

5. Phong bì bảo đảm đã dán tem

Các thủ tục tư pháp (đăng ký kết hôn; làm giấy khai sinh cho con)

a. Đăng ký kết hôn

Theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân gia đình thì việc đăng ký kết hôn của công dân Việt Nam ở nước ngoài có thể được tiến hành tại cơ quan đại diện ngoại giao ở đó. Một trong những giấy tờ bắt buộc là phải có giấy xác nhận trong vòng 6 tháng trước đó của cơ quan có thẩm quyền về việc bên nam và nữ hiện không có vợ hoặc chồng. Trường hợp bạn mới sang Nhật, giấy xác nhận tình trạng chưa kết hôn của bạn là do chính quyền địa phương ở Việt Nam (phường, xã) cấp. Nếu bạn đã ở Nhật trên 6 tháng thì cơ quan có thẩm quyền xác nhận là Đại sứ quán.

b. Khai sinh

Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa có quy định về việc đăng ký khai sinh cho công dân Việt Nam ở nước ngoài. Vì vậy nếu bạn muốn đăng ký khai sinh cho con theo pháp luật Việt Nam thì phải về Việt Nam, hoặc có thể đăng ký khai sinh cho cháu bé theo pháp luật Nhật.

Trong trường hợp đăng ký khai sinh tại Nhật, thủ tục được thực hiện tại văn phòng hành chính thành phố/quận nơi bạn cư trú trong vòng 14 ngày từ khi sinh ra. Các giấy tờ cần thiết gồm: Giấy chứng sinh (do Bệnh viện cấp); Sổ y bạ của mẹ và con; Thẻ bảo hiểm sức khỏe.

Sau khi đăng ký khai sinh, bạn phải có nghĩa vụ thông báo đến Đại sứ quán biết. Sau đó, bạn phải làm Thẻ đăng ký người nước ngoài cho cháu bé trong thời hạn 60 ngày từ ngày sinh.

Hướng dẫn chi tiết các thủ tục, giấy tờ cần thiết khi sống tại Nhật
Thủ-tục-bảo-lãnh-người-thân-qua-Canada-làm-việc-300x224

Mời người thân sang Nhật

Các du học sinh đang học ở Nhật có thể bảo lãnh cho người thân trong gia đình sang Nhật theo 2 diện khác nhau:

1. Bảo lãnh cho vợ (chồng), con sang Nhật cùng sống trong thời gian học tập – với visa gia đình (Family dependent – Kazoku Taizai).

2. Bảo lãnh cho người thân khác trong gia đình (bố, mẹ, anh, chị em) sang thăm, du lịch – với visa tạm trú ngắn hạn (Short Period of Stay – Tanki Taizai).

Ðiều quan trọng nhất để người trong gia đình bạn xin được visa nhập cảnh là bạn và người thân gia đình bạn phải đảm bảo được tiền chi phí sinh hoạt ở Nhật. Nếu bạn thiếu điều kiện này thì khả năng xin được visa nhập cảnh vào Nhật rất ít.

Trong mọi trường hợp, bạn nên hỏi chi tiết tại các cơ quan cấp hộ chiếu, visa xuất cảnh phía Việt Nam cũng như Ðại sứ quán hay Lãnh sự quán Nhật Bản tại Việt Nam đề phòng có những thay đổi trong quy định.
Trường hợp người trong gia đình bạn chưa có hộ chiếu, hay hộ chiếu hết hạn thì bạn phải xin cấp hộ chiếu hoặc xin gia hạn hộ chiếu.Nếu như người trong gia đình bạn đã có hộ chiếu hợp lệ và có thị thực xuất cảnh, hoặc không cần giấy tờ của bạn thì không cần phải làm bước này.Ðể xin cấp hộ chiếu và visa xuất cảnh thì cách gọn nhất là thuê các công ty du lịch làm thủ tục trọn gói. Bạn cũng có thể xin đơn có giấy chứng nhận của Ðại sứ quán hay Lãnh sự quán Việt Nam tại Nhật Bản và gửi về Việt Nam cho người trong gia đình bạn làm thủ tục xin cấp hộ chiếu và thị thực xuất cảnh.

Xin giấy chứng nhận tư cách tạm trú

Trường hợp mời gia đình sang cư trú dài hạn (trên 3 tháng), bạn cần tiến hành thủ tục xin Giấy chứng nhận tư cách tạm trú (Certificate of Eligibility- Zairyu Shikaku Nintei Shyomeisho) ở Cục Quản lý nhập cảnh nơi bạn cư trú. Thủ tục này có thể mất từ một tuần đến ba tháng.

Các giấy tờ cần thiết để xin COE gồm:

1. Đơn xin cấp theo mẫu (mỗi người một đơn)

2. Chứng minh khả năng hỗ trợ tài chính cho các thành viên gia đình sẽ bảo lãnh sang (xác nhận học bổng, thu nhập, số dư tài khoản…)

3. Giấy chứng nhận đang học tập (do trường cấp)

4. Các giấy tờ chứng minh quan hệ với người bảo lãnh (hôn thú, khai sinh…) (phải được dịch sang tiếng Nhật)

5. Hai ảnh 4cm x 3cm cho mỗi người.

Bạn không phải nộp lệ phí cho việc xin cấp COE này.

b. Xin thị thực nhập cảnh vào Nhật Bản

Sau khi người thân trong gia đình bạn đã được cấp hộ chiếu và thị thực xuất cảnh thì sẽ tiến hành xin thị thực nhập cảnh ở ÐSQ hay LSQ Nhật Bản ở Việt Nam. Các giấy tờ nộp cho bộ phận cấp visa ở ÐSQ hay LSQ Nhật gồm:

1. Giấy bảo lãnh (Letter of Guarantee – Mimoto Hoshyoshyo). Giấy này nên xin thầy giáo hướng dẫn hoặc một người Nhật nào bạn quen làm người bảo lãnh ký cho bạn thì sẽ nhanh và chắc chắn hơn, hoặc bạn hỏi chi tiết ở Ðại sứ quán Nhật Bản ở Việt Nam xem có cần giấy này không.

2. Ðơn xin nhập cảnh (A letter of explanation – Riryushyo), trong giấy này bạn nêu rõ lí do xin cho gia đình đi theo, và thường viết bằng tiếng Nhật.

3. Lịch trình ở Nhật, giấy này do bạn tự viết bằng tiếng Nhật.

4. Bản sao Thẻ đăng ký người nước ngoài của bạn hay Giấy chứng nhận đăng ký người nước ngoài của bạn (do văn phòng hành chính nơi bạn cư trú cấp).

5. Giấy chứng nhận nhập học và giấy chứng nhận kết quả học tập do trường cấp

6. Giấy chứng nhận học bổng

7. Giấy chứng nhận tư cách tạm trú

8. Các giấy tờ khác mà ÐSQ hay LSQ Nhật Bản ở Việt Nam yêu cầu: đăng ký kết hôn, giấy khai sinh của con, giấy chứng nhận quan hệ gia đình…

9. Lệ phí

Chú ý:

1. Thời hạn làm thủ tục xin thị thực lưu trú ngắn hạn có thể mất đến 3 tháng.

2. Nếu bạn là du học sinh tư phí thì bạn sẽ phải nộp thêm những giấy tờ liên quan đến thu nhập của bạn như giấy chứng nhận khả năng tài chính, giấy chứng nhận thu nhập làm việc ngoài giờ (giờ làm thêm phải nằm trong thời gian quy định), giấy chứng nhận tiền còn trong tài khoản ngân hàng v.v… cho Đại sứ quán Nhật ở Việt Nam.

Chi tiết